Điều
trị Ung thư ở tế bào gan chương 1
(Nữ,
40 tuổi)
Tình
hình bệnh trạng:
Tháng 3-1990, do đau
lâm râm ở khoảng giữa gan và mật, chứng trạng ngày càng nặng, kéo dài 3 tuần, đến
bệnh viện kiểm tra. HBsAg(+), HBeAg(+). HBcAg(+). Anfa FP tăng 60ng/l. Siêu âm
thấy cách cửa gan 2cm có điểm đè ép túi mật. Ngày 26-3 phẫu thuật ở bệnh viện
này, cắt bỏ đoạn dưới của lá gan giữa 5cm và túi mật. Theo bệnh lý nhận định là
u dạng tế bào gan, H.C.C III, mép cắt (-), gan không biểu hiện cứng lên. Ngày
14-3-1991, mở khe ở mép bên phải bụng cắm vòi dẫn hóa chất vào một lần. Sau khi
phẫu thuật bắp chân phải sưng to, nằm viện kiểm tra cho là huyết đọng ở tĩnh mạch
chìm, siêu âm màu thấy tĩnh mạch ở bắp chân phải bị hẹp lại, lượng huyết lưu giảm
đi. Chụp căn lớp cho thấy: đoạn trước lá gan phải sau khi phẫu thuật u một năm,
không có triệu chứng phát lại, vòi dẫn nước mật dãn ra, đoạn dưới vòi dẫn ống mật
có khả năng kết sỏi, túi mật bị cắt bỏ.
Ngày 28-9-1991 bệnh viện siêu âm màu thấy
mạch ở bên phải buồng gan phía trên 16z12cm có tiếng hồi âm không theo nhịp, cần
tiếp tục quan sát, để loại bỏ bệnh phát trở lại. Từ ngày 25-4-1990 bắt đầu uống
thuốc đông y, đến nay đã hơn 4 năm, tháng 3-1994 chụp cắt lớn cho thấy: các bộ
phận gan, thạn, lá lách đều bình thường không thấy u tái phát lại.
Ngày 22-5 kiểm
tra Anfa FP giảm còn 25ng/l. Từ tháng 10-1992 làm việc nửa ngày, bây giờ làm việc
cả ngày đã hơn 2 năm, mùa thu năm 1994 tham gia đội những người bị chứng u thi
múa quyền được giải hai.
Quá
trình điều trị:
Ngày 25-4-1990 chẩn
đoán lần đầu.
Sau cắt bỏ u 1 tháng. Bệnh
nhân kể: người mệt mỏi, tai ù, đầu váng, chán ăn, có lúc sốt nhẹ, bụng đau lâm
râm, đại tiện không thành khuôn. Mạch tượng tế hoạt sác, lưỡi đỏ, có tia máu,
mép lưỡi có vết răng, mạch nổi ở chân lưỡi.
Luận chứng bệnh: Khí và
âm đều hư, huyết ứ trệ, thấp nhiệt nung nấu bên trong. Điều trị lấy dưỡng khí,
dưỡng âm, nhu can hoạt huyết, thanh nhiệt lợi thấp.
I.
Bài thuốc cơ bản:
1. Kiện tỳ ích khí: bạch
truật sao 30g, hoàng kỳ 15g, hài nhi sâm 20g hoặc đảng sâm 12g, phục linh 12g, sinh
cam thảo 9g.
2. Dưỡng âm nhu can, hoạt
huyết lý khí: bắc sa sâm 12g, sinh thục địa đều 15g, câu kỷ tử 12g, xích bạch
thược đều 12g, đương quy 9-12g, đan sâm 15g, thiên thảo 12-15g, bát nguyệt trát
15-30g
3. Thanh nhiệt lợi thấp:
quá lộ hoàng 30g, điền cơ hoàng 30g, thạch kiến xuyên 30g, tiên hạc thảo 30g,
bình địa mộc 30g (sắc nước uống thay nước).
Xem
thêm: Điều trị Ung thư ở tế bào gan chương 2
